Chào mừng quý vị đến với website DÁNG NHỚ của Lê Văn Sơn.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
TUAN 10

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Văn Sơn (trang riêng)
Ngày gửi: 22h:08' 21-01-2010
Dung lượng: 115.5 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Lê Văn Sơn (trang riêng)
Ngày gửi: 22h:08' 21-01-2010
Dung lượng: 115.5 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Tuần:10
Tiết :37 NÓI QUÁ
I/. Mục tiêu cần đạt:
Giúp h/sinh:
- Hiểu được thế nào là nói quá và tác dụng của biện pháp tu từ này trong văn chương cũng như trong cuộc sống.
- Rèn kỹ năng sử dụng “nói quá” trong viết văn cũng như trong giao tiếp.
II/. Chuẩn bị:
Giáo viên: giáo án, SGK, SGV, STK, bảng phụ.
Học sinh: SGK, STK, học bài, xem bài.
III/. Các bước lên lớp:
1. Ổn định lớp: (1’)
2. Kiểm tra bài cũ: (4’) H: Đọc 2 câu ca dao/tục ngữ/thơ có sử dụng từ ngữ địa phương chỉ quan hệ ruột thịt?.
H: Đọc 2 câu ca dao/tục ngữ/thơ có sử dụng từ ngữ địa phương chỉ các sự vật khác?
Kiểm tra phần chuẩn bị bài của học sinh.
3. Bài mới:
(Dựa trên đặc điểm nội dung của bài học để xây dựng lời giới thiệu).
TG
Hoạt động của
giáo viên
Hoạt động của
học sinh
Nội dung bài
10
5’
20
Gv treo bảng phụ, gọi h/s đọc Vd (SGK - trang 101).
H: Những từ in đậm có phản ánh đúng thực tế hay không?
H: Cách nói trên nhằm mục đích gì?
H: Cách nói như vậy có tác dụng gì?
Cho h/s đối chiếu các câu ca dao, tục ngữ trên với các câu đồng nghĩa.
H: Cách nói nào sinh động hơn?
=> tác dụng của nói quá?
Phân tích cho h/s nắm rõ giá trị biểu cảm tích cực của nói quá khác với việc nói dóc (nói khoác lác, sai sự thật).
Gọi h/s đọc yêu cầu của bài tập 1 -> bài tập 4.
Gv chia ra 4 nhóm cho thảo luận trong 5’, yêu cầu trình bày kết quả, cho h/s khác nhóm nhận xét, giáo viên uốn nắn, chỉnh sửa.
-> quan sát.
-> đọc ngữ liệu.
-> không.
-> chưa nằm đã sáng: hiện tượng thời gian ban đêm quá ngắn.
-> chưa cười đã tối: thời gian ban ngày trôi nhanh.
-> thánh thót như mưa ruộng cày: công sức đổ ra rất nhiều.
-> gây ấn tượng cho người nghe.
So sánh:
-> đêm tháng 5 rất ngắn
-> ngày tháng 10 ngắn
-> mồ hồi nhiều.
-> học sinh trình bày nhận xét
-> nêu yêu cầu của bài tập.
-> thảo luận nhóm cử đại diện trình bày kết quả.
-> nhận xét bài làm của bạn.
-> ghi nhận và sửa chữa.
I. Nói quá và tác dụng của nó:
1. Khái niệm:
Nói quá là biện pháp tu từ phóng đại mức độ, quy mô, tính chất của sự vật, hiện tượng được miêu tả.
2. Tác dụng:
Nhấn mạnh, gây ấn tượng và tăng sức biểu cảm.
II. Luyện tập:
Bài tập 1:
a. “Có sức... thành cơm”: sức lao động bền bỉ sẽ chinh phục, cải tạo được mạnh đất cằn cỗi.
b. “đi lên đến tận trời”: vết thương nhẹ, sức khoẻ còn tốt, vẫn có thể tham gia chiến đấu.
c. “thét ra lửa”: giọng to, mạnh, khủng khiếp, có oai lực.
Bài tập 2: Điền cụm từ vào chỗ trống: a. Chó ăn đá, gà ăn sỏi.
b. bầm gan tím ruột.
c. ruột để ngoài da.
d. nở từng khúc ruột.
e. vắt chân lên cổ.
Bài tập 3: Đặt câu:
a. Cô ấy quả là có sắc đẹp “nghiêng nước nghiêng thành”.
b. Cô yên tâm, chúng ta hợp lại thì có thể “dời non lấp bể” chứ nói gì chuyện làm cỏ này.
c. Chuyện bài vở còn chưa xong mày lại đòi đến “lấp trời vá biển” - lãnh học bổng hả - còn khuya.
d. Nghĩ nát óc không còn cách nào, chỉ còn nước chuồn là xong.
e. Trời rét mặc áo thế này em tưởng mình thịt đồng da sắt hả.
Bài tập 4: Tìm 5 thành ngữ so sánh:
- đen như than.
- hung như quỷ
- trắng như bông bưởi
Tiết :37 NÓI QUÁ
I/. Mục tiêu cần đạt:
Giúp h/sinh:
- Hiểu được thế nào là nói quá và tác dụng của biện pháp tu từ này trong văn chương cũng như trong cuộc sống.
- Rèn kỹ năng sử dụng “nói quá” trong viết văn cũng như trong giao tiếp.
II/. Chuẩn bị:
Giáo viên: giáo án, SGK, SGV, STK, bảng phụ.
Học sinh: SGK, STK, học bài, xem bài.
III/. Các bước lên lớp:
1. Ổn định lớp: (1’)
2. Kiểm tra bài cũ: (4’) H: Đọc 2 câu ca dao/tục ngữ/thơ có sử dụng từ ngữ địa phương chỉ quan hệ ruột thịt?.
H: Đọc 2 câu ca dao/tục ngữ/thơ có sử dụng từ ngữ địa phương chỉ các sự vật khác?
Kiểm tra phần chuẩn bị bài của học sinh.
3. Bài mới:
(Dựa trên đặc điểm nội dung của bài học để xây dựng lời giới thiệu).
TG
Hoạt động của
giáo viên
Hoạt động của
học sinh
Nội dung bài
10
5’
20
Gv treo bảng phụ, gọi h/s đọc Vd (SGK - trang 101).
H: Những từ in đậm có phản ánh đúng thực tế hay không?
H: Cách nói trên nhằm mục đích gì?
H: Cách nói như vậy có tác dụng gì?
Cho h/s đối chiếu các câu ca dao, tục ngữ trên với các câu đồng nghĩa.
H: Cách nói nào sinh động hơn?
=> tác dụng của nói quá?
Phân tích cho h/s nắm rõ giá trị biểu cảm tích cực của nói quá khác với việc nói dóc (nói khoác lác, sai sự thật).
Gọi h/s đọc yêu cầu của bài tập 1 -> bài tập 4.
Gv chia ra 4 nhóm cho thảo luận trong 5’, yêu cầu trình bày kết quả, cho h/s khác nhóm nhận xét, giáo viên uốn nắn, chỉnh sửa.
-> quan sát.
-> đọc ngữ liệu.
-> không.
-> chưa nằm đã sáng: hiện tượng thời gian ban đêm quá ngắn.
-> chưa cười đã tối: thời gian ban ngày trôi nhanh.
-> thánh thót như mưa ruộng cày: công sức đổ ra rất nhiều.
-> gây ấn tượng cho người nghe.
So sánh:
-> đêm tháng 5 rất ngắn
-> ngày tháng 10 ngắn
-> mồ hồi nhiều.
-> học sinh trình bày nhận xét
-> nêu yêu cầu của bài tập.
-> thảo luận nhóm cử đại diện trình bày kết quả.
-> nhận xét bài làm của bạn.
-> ghi nhận và sửa chữa.
I. Nói quá và tác dụng của nó:
1. Khái niệm:
Nói quá là biện pháp tu từ phóng đại mức độ, quy mô, tính chất của sự vật, hiện tượng được miêu tả.
2. Tác dụng:
Nhấn mạnh, gây ấn tượng và tăng sức biểu cảm.
II. Luyện tập:
Bài tập 1:
a. “Có sức... thành cơm”: sức lao động bền bỉ sẽ chinh phục, cải tạo được mạnh đất cằn cỗi.
b. “đi lên đến tận trời”: vết thương nhẹ, sức khoẻ còn tốt, vẫn có thể tham gia chiến đấu.
c. “thét ra lửa”: giọng to, mạnh, khủng khiếp, có oai lực.
Bài tập 2: Điền cụm từ vào chỗ trống: a. Chó ăn đá, gà ăn sỏi.
b. bầm gan tím ruột.
c. ruột để ngoài da.
d. nở từng khúc ruột.
e. vắt chân lên cổ.
Bài tập 3: Đặt câu:
a. Cô ấy quả là có sắc đẹp “nghiêng nước nghiêng thành”.
b. Cô yên tâm, chúng ta hợp lại thì có thể “dời non lấp bể” chứ nói gì chuyện làm cỏ này.
c. Chuyện bài vở còn chưa xong mày lại đòi đến “lấp trời vá biển” - lãnh học bổng hả - còn khuya.
d. Nghĩ nát óc không còn cách nào, chỉ còn nước chuồn là xong.
e. Trời rét mặc áo thế này em tưởng mình thịt đồng da sắt hả.
Bài tập 4: Tìm 5 thành ngữ so sánh:
- đen như than.
- hung như quỷ
- trắng như bông bưởi
 
Cho và nhận
Sau khi chết, Giáp và Ất xuống địa ngục. Sau khi tra
cuốn sổ ghi công và tội của hai người. Diêm Vương
nói: “Khi còn sống, các ngươi chưa từng làm việc
ác, cho phép các ngươi được đầu thai làm người.
Nhưng bây giờ có hai loại người cho các ngươi lựa
chọn: một loại người luôn cho và một loại người
luôn nhận, hay nói cách khác, một loại người phải
cho đi và bỏ ra, còn loại người kia luôn phải tiếp
nhận và thu về” Giáp nghĩ bụng, thu về, nhận vào
chẳng phải là ngồi mát ăn bát vàng sao, thật là
thoải mái và sung sướng. Vì thế, anh ta tranh nói
trước: “Tôi muốn trở thành người chỉ nhận”.
Ất thấy thế cũng không còn sự lựa chọn nào khác,
nên đành chấp nhận cuộc sống luôn phải bỏ ra và
cho đi. Diêm Vương nghe xong liền phán xét tiền đồ
của hai người: “Giáp muốn có cuộc sống chỉ nhận
vào, nên kiếp sau sẽ làm kẻ ăn xin, suốt ngày nhận
sự bố thí của người khác. Ất sẽ trở thành
người giàu có, suốt đời bố thí tiền cho người
khác”. Ăn xin ở trong khách sạn 5 sao Lời bình: Muốn
gặt hái được thành công, thì phải hiểu được
triết lý “bỏ ra”. Có bỏ ra thì mới có thu về, có
cho thì mới có nhận. Bỏ ra nhiều hay ít sẽ quyết
định thành công lớn hay nhỏ.






Các ý kiến mới nhất