THỜI GIAN LÀ VÀNG

DỰ BÁO THỜI TIÊT

Hà Nội
Huế
Đà Nẵng
Hội An
Hồ Chí Minh

LIEN KET

HỔ TRỢ TRỰC TUYẾN

Quản trị: LÊ VĂN SƠN
01288556649

Tự điển Oline


Tra theo từ điển:



Tài nguyên dạy học

Thành viên trực tuyến

3 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Đẹp
    Đơn điệu
    Bình thường
    Ý kiến khác

    Menu chức năng 1

    Menu chức năng 2

    Chào mừng quý vị đến với website DÁNG NHỚ của Lê Văn Sơn.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    Thơ Vũ Hoàng Chương

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Văn Sơn (trang riêng)
    Ngày gửi: 20h:12' 13-11-2014
    Dung lượng: 265.5 KB
    Số lượt tải: 1
    Số lượt thích: 0 người
    Vũ Hoàng Chương
    Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
    
    Bài viết hoặc đoạn này cần thêm chú thích nguồn gốc để có thể kiểm chứng thông tin. Những nội dung không có nguồn có thể bị đặt vấn đề và xóa bỏ. Mời bạn bổ sung chú thích từ các nguồn đáng tin cậy để giúp cải thiện bài viết.
    
     
    
    
    
    Công việc
    nhà thơ
    
    Vũ Hoàng Chương (5 tháng 5 1916 – 6 tháng 9 1976) là một nhà thơ nổi tiếng của Việt Nam. Ông sinh tại Nam Định, nguyên quán tại làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, nay là huyện Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên. Văn phong của ông được cho là sang trọng, có dư vị hoài cổ, giàu chất nhạc, với nhiều sắc thái Đông phương.
    Tiểu sử
    Thuở nhỏ, ông học chữ Hán ở nhà rồi lên học tiểu học tại Nam Định. Năm 1931 ông nhập học trường Albert Sarraut ở Hà Nội, đỗ Tú tài năm 1937. Năm 1938 ông vào Trường Luật nhưng chỉ được một năm thì bỏ đi làm Phó Kiểm soát Sở Hỏa xa Đông Dương, phụ trách đoạn đường Vinh - Na Sầm. Năm 1941, ông bỏ Sở hỏa xa đi học Cử nhân toán tại Hà Nội, rồi lại bỏ dở để đi dạy ở Hải Phòng. Trong suốt thời gian này, ông không ngừng sáng tác thơ và kịch. Sau đó trở về Hà Nội lập "Ban kịch Hà Nội" cùng Chu Ngọc và Nguyễn Bính. Năm 1942 đoàn kịch công diễn vở kịch thơ Vân muội tại Nhà Hát Lớn. Cũng năm đó ông gặp Đinh Thục Oanh, chị ruột nhà thơ Đinh Hùng và hai người thành hôn năm 1944. Sau Cách mạng tháng Tám 1945, ông về Nam Định và cho diễn vở kịch thơ Lên đường của Hoàng Cầm. Kháng chiến toàn quốc nổ ra, Vũ Hoàng Chương tản cư cùng gia đình về Thái Bình, làm nghề dạy học. Đến 1950, gặp lúc quân Pháp càn đến ruồng bắt cả nhà, ông bỏ miền quê, hồi cư về Hà Nội nơi dạy toán rồi chuyển sang dạy văn và làm nghề này cho đến 1975. Năm 1954, Vũ Hoàng Chương di cư vào Nam, tiếp tục dạy học và sáng tác ở Sài Gòn. Năm 1959 ông đoạt "Giải Văn học Nghệ thuật Toàn quốc" của Việt Nam Cộng hòa với tập thơ Hoa đăng. Trong năm này ông sang Âu châu tham dự Hội nghị Thi ca Quốc tế tại Bỉ. Năm 1964 ông tham dự Hội nghị Văn bút Á châu họp tại Bangkok; năm sau, 1965 lại tham dự Hội nghị Văn bút Quốc tế họp tại Bled, Nam Tư. Năm 1967, ông lại tham dự Hội nghị Văn bút Quốc tế họp tại Abidjan, thủ đô Côte d`Ivoire. Thời gian 1969-1973 Vũ Hoàng Chương là Chủ tịch Trung tâm Văn bút Việt Nam. Năm 1972 ông đoạt giải thưởng văn chương toàn quốc lần thứ hai. Ông còn được vinh danh là "Thi bá" Việt Nam. Ngày 13 tháng 4 năm 1976, bị Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam bắt giam tại khám Chí Hòa. Bệnh nặng đưa về nhà được 5 ngày thì ông mất ngày 6 tháng 9 năm 1976 tại Sài Gòn.
    Các tác phẩm tiêu biểu
    Các tập thơ:
    Thơ say (1940)
    Mây (1943)
    Thơ lửa (cùng Đoàn Văn Cừ, 1948)
    Rừng phong (1954)
    Hoa đăng (1959)
    Tâm sự kẻ sang Tần (1961)
    Lửa từ bi (1963)
    Ta đợi em từ 30 năm (1970)
    Đời vắng em rồi say với ai (1971)
    Chúng ta mất hết chỉ còn nhau (1973)...
    Kịch thơ:
    Trương Chi (1944)
    Vân muội (1944)
    Hồng diệp (1944)
    Bình luận và nhận xét
    "...Ý giả Vũ Hoàng Chương định nối cái nghiệp những thi hào-xưa của Đông Á: cái nghiệp say. Người say đủ thứ: say rượu, say đàn, say ca, say tình đong đưa. Người lại còn "hơn" cổ nhân những thứ say mới nhập-cảng: say thuốc phiện, say nhảy đầm. Bấy nhiêu say sưa đều nuôi bằng một say sưa to hơn mọi say sưa khác: say thơ.... cái say sưa của Vũ Hoàng Chương là một thứ say sưa có chừng mực, say sưa mà không hẳn là trụy lạc, mặc dầu từ say sưa đến trụy lạc đường chẳng dài chi. Nhưng trụy lạc hay say sưa đều mang theo một niềm ngao ngán. Niềm ngao ngán ấy ta vốn đã gặp trong thơ xưa. Duy ở đây có cái vị chua chát, hằn học, và bi đát riêng... (Hoài Thanh - Hoài Chân, "Thi nhân Việt Nam") 
     Trang này được sửa đổi lần cuối lúc 19:42, ngày 20 tháng 5 năm 2014
    
    Một số bài thơ của Vũ Hoàng Chương mà ĐC chép từ http://isach.info
    Buồn Đêm Đông 
    Mây bay mờ
     
    Gửi ý kiến

    Cho và nhận

    Sau khi chết, Giáp và Ất xuống địa ngục. Sau khi tra cuốn sổ ghi công và tội của hai người. Diêm Vương nói: “Khi còn sống, các ngươi chưa từng làm việc ác, cho phép các ngươi được đầu thai làm người. Nhưng bây giờ có hai loại người cho các ngươi lựa chọn: một loại người luôn cho và một loại người luôn nhận, hay nói cách khác, một loại người phải cho đi và bỏ ra, còn loại người kia luôn phải tiếp nhận và thu về” Giáp nghĩ bụng, thu về, nhận vào chẳng phải là ngồi mát ăn bát vàng sao, thật là thoải mái và sung sướng. Vì thế, anh ta tranh nói trước: “Tôi muốn trở thành người chỉ nhận”. Ất thấy thế cũng không còn sự lựa chọn nào khác, nên đành chấp nhận cuộc sống luôn phải bỏ ra và cho đi. Diêm Vương nghe xong liền phán xét tiền đồ của hai người: “Giáp muốn có cuộc sống chỉ nhận vào, nên kiếp sau sẽ làm kẻ ăn xin, suốt ngày nhận sự bố thí của người khác. Ất sẽ trở thành người giàu có, suốt đời bố thí tiền cho người khác”. Ăn xin ở trong khách sạn 5 sao Lời bình: Muốn gặt hái được thành công, thì phải hiểu được triết lý “bỏ ra”. Có bỏ ra thì mới có thu về, có cho thì mới có nhận. Bỏ ra nhiều hay ít sẽ quyết định thành công lớn hay nhỏ.