Chào mừng quý vị đến với website DÁNG NHỚ của Lê Văn Sơn.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Gốc > BÀI VIẾT > Chia sẻ >
Quang Dũng (nhà thơ)
Quang Dũng sinh tại làng Phượng Trì, huyện Đan Phượng, Thành Phố Hà Nội. Trước cách mạng tháng Tám, ông học Ban trung học trường Thăng Long. Sau khi tốt nghiệp, ông đi dạy học tư ở Sơn Tây. Ông gia nhập Quân đội Nhân dân Việt Nam vào ngày Cách mạng tháng Tám thành công, trở thành phóng viên tiền phương của báo Chiến đấu.[1] Năm 1947, ông được điều đi học Trường bổ túc trung cấp quân sự Sơn Tây. Sau khoá học, ông làm đại đội trưởng ở tiểu đoàn 212, Trung đoàn Tây Tiến. Ông tham gia chiến dịch Tây Tiến đợt hai, mở đường qua đất Tây Bắc. Trong thời gian này, ông còn dược cử làm Phó đoàn tuyên truyền Lào - Việt[1]. Cuối năm 1948, sau chiến dịch Tây Tiến, ông làm trưởng tiểu ban tuyên huấn của Trung đoàn 52 Tây Tiến, rồi làm trưởng đoàn Văn nghệ Liên khu III. Ông đã viết rất nhiều truyện ngắn xuất bản và viết kịch, cũng như đã triển lãm tranh sơn dầu cùng với các hoạ sĩ nổi danh. Ông sáng tác nhạc, bài Ba Vì của ông đã nổi tiếng ở trong khu kháng chiến. Ông làm bài thơ Tây Tiến năm 1948 khi dự Đại hội toàn quân ở Liên khu III tại làng Phù Lưu Chanh (Hà Nam). Tháng 8 năm 1951, ông xuất ngũ.[1] Sau 1954, ông làm biên tập viên tại báo Văn nghệ, rồi chuyển về Nhà xuất bản Văn học. Ông bị gửi đi chỉnh huấn sau vụ Nhân Văn - Giai Phẩm, và lui về ẩn thân trong nghèo nàn và bệnh tật. Thơ của ông bị phê bình trên báo chí miền Bắc lúc đó là mang hơi hướng "tiểu tư sản", thiếu tính chiến đấu, còn ở miền Nam thì được xuất bản và phổ biến rộng rãi và được nhiều người yêu thích[2]. Về sau này, như những nhà thơ lớn khác, Nguyễn Bính, Hồ Dzếnh,... ông mai một và mất đi trong âm thầm. Ông mất ngày 13 tháng 10 năm 1988 tại bệnh viện Thanh Nhàn, Hà Nội. Ông là người tài hoa, vẽ tài, hát giỏi, thơ hay. Bài thơ Tây Tiến của ông mang đậm nét hào hùng, bi tráng pha chất lãng mạn được chọn vào giảng dạy trong giáo trình trung học phổ thông. Một số bài thơ của ông đã được phổ nhạc như Tây Tiến (Phạm Duy phổ nhạc), Đôi mắt người Sơn Tây (Phạm Đình Chương phổ từ hai bài thơ Đôi bờ và Đôi mắt người Sơn Tây), Kẻ ở (Cung Tiến phổ nhạc). Đặc biệt bài thơ Em mãi là 20 tuổi được 3 nhạc sĩ phổ nhạc khác nhau (Việt Dzũng, Phạm Trọng Cầu, Khúc Dương). Năm 2001, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật
Lê Văn Sơn @ 20:31 10/04/2010
Số lượt xem: 558
Lê Văn Sơn @ 20:31 10/04/2010
Số lượt xem: 558
Số lượt thích:
0 người
 
- BÌNH THƠ NGUYỄN BÍNH (30/03/10)
- NHÀ THƠ NGUYỄN BINH (29/03/10)
- DANH MỤC TÁC PHẨM THẾ LƯ (29/03/10)
- FOR YOU (20/01/10)
- Làm anbum ảnh + nhạc = PM Flash Slideshow Maker Professional. (06/01/10)
Cho và nhận
Sau khi chết, Giáp và Ất xuống địa ngục. Sau khi tra
cuốn sổ ghi công và tội của hai người. Diêm Vương
nói: “Khi còn sống, các ngươi chưa từng làm việc
ác, cho phép các ngươi được đầu thai làm người.
Nhưng bây giờ có hai loại người cho các ngươi lựa
chọn: một loại người luôn cho và một loại người
luôn nhận, hay nói cách khác, một loại người phải
cho đi và bỏ ra, còn loại người kia luôn phải tiếp
nhận và thu về” Giáp nghĩ bụng, thu về, nhận vào
chẳng phải là ngồi mát ăn bát vàng sao, thật là
thoải mái và sung sướng. Vì thế, anh ta tranh nói
trước: “Tôi muốn trở thành người chỉ nhận”.
Ất thấy thế cũng không còn sự lựa chọn nào khác,
nên đành chấp nhận cuộc sống luôn phải bỏ ra và
cho đi. Diêm Vương nghe xong liền phán xét tiền đồ
của hai người: “Giáp muốn có cuộc sống chỉ nhận
vào, nên kiếp sau sẽ làm kẻ ăn xin, suốt ngày nhận
sự bố thí của người khác. Ất sẽ trở thành
người giàu có, suốt đời bố thí tiền cho người
khác”. Ăn xin ở trong khách sạn 5 sao Lời bình: Muốn
gặt hái được thành công, thì phải hiểu được
triết lý “bỏ ra”. Có bỏ ra thì mới có thu về, có
cho thì mới có nhận. Bỏ ra nhiều hay ít sẽ quyết
định thành công lớn hay nhỏ.
Các ý kiến mới nhất