THỜI GIAN LÀ VÀNG

DỰ BÁO THỜI TIÊT

Hà Nội
Huế
Đà Nẵng
Hội An
Hồ Chí Minh

LIEN KET

HỔ TRỢ TRỰC TUYẾN

Quản trị: LÊ VĂN SƠN
01288556649

Tự điển Oline


Tra theo từ điển:



Tài nguyên dạy học

Thành viên trực tuyến

3 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Đẹp
    Đơn điệu
    Bình thường
    Ý kiến khác

    Menu chức năng 1

    Menu chức năng 2

    Chào mừng quý vị đến với website DÁNG NHỚ của Lê Văn Sơn.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > TÍCH LŨY KIẾN THỨC > Lich su và Van học >

    Khả Tiệm Ly Hảo hán

    TUYỂN TẬP VĂN TẾ ĐẠI THI HÀO NGUYỄN DU SẮP XUẤT BẢN. MỜI CÁC BẠN ĐỌC TRƯỚC LỜI GIỚI THIỆU.

    LỜI GIỚI THIỆU

    Tiến tới dịp kỷ niệm 200 ngày mất của Đại thi hào Nguyễn Du (1820 –2020), bốn cơ quan bao gồm Hội Kiều học Việt Nam, Hội Nhà văn Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam và Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Tĩnh phối hợp tổ chức hai cuộc thi có tên là “Bạn đọc thuộc Kiều” và “ Sáng tác Văn tế Đại thi hào Nguyễn Du”. Cuộc thi thứ nhất ngoài việc khuyến khích, cổ vũ phong trào đọc Kiều còn có mục đích để biết được hiện nay ở nước ta có bao nhiêu người thuộc trọn vẹn 3254 câu Kiều. Cuộc thi thứ hai là góp một câu trả lời của hậu thế đối với nỗi trăn trở của Đại thi hào “ Bất tri tam bách dư niên hậu/ Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như”.
    Trên hai trăm năm Truyện Kiều có mặt trong đời sống tinh thần của người Việt Nam ta, qua các thời đại đã có nhiều cuộc thi về Truyện Kiều. Đáng kể nhất là cuộc thi Vịnh Kiều năm 1905 do Tổng đốc Lê Hoan chủ xướng, Nhà thơ Nguyễn Khuyến Chủ khảo và cuộc thi Đố Kiều kéo dài trong hai năm 2008 – 2009 do Đài Tiếng nói Việt Nam tổ chức, nhà thơ Vương Trọng chủ trì. Đại thi hào Nguyễn Du từng là cảm hứng của hàng ngàn tác phẩm văn học nghệ thuât, nhưng đây là lần đầu tiên có cuộc thi về đề tài này: Văn tế Đại thi hào!
    Để tỏ lòng thương tiếc người quá cố, trong đám tang, ngày giỗ hay lễ kỷ niệm…từ xưa đến nay, nhân dân ta thường đọc các bài văn có hình thức nghệ thuật khác nhau để làm văn tế. Có thể là văn xuôi, thơ tự do, thơ lục bát, song thất lục bát…và nhiều hình thức thơ văn nữa, trong số này có một thể loại đáng lưu ý nhất được gọi là thể Văn tế, cả bài gồm những cặp biền ngẫu, mỗi cặp biền ngẫu gọi là một “liên”, được gieo vần trắc, thường là một vần, từ đầu đến cuối bài. Thể loại Văn tế này còn được gọi là Văn tế thể Phú – Đường luật. Chúng ta biết rằng, biền ngẫu là một hình thức văn chương phổ biến trong nhiều thể loại văn học nước ta, trong đó hình thức đối chặt chẽ nhất thể hiện ở thể loại Câu đối và các cặp Thực, Luận cuả thể thơ Đường luật thất ngôn bát cú. Đó là sự đối nhau của các chữ, các từ cùng chức năng ngữ pháp. Với thể Phú, Văn tế, sự đối trong biền ngẫu lỏng hơn, ngoài đối chữ, đối từ, còn cho phép đối nhóm từ, thi thoảng có thể lặp từ của hai vế. Ví như:
    Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, MUỐN tới ăn gan
    Ngaỳ xem ống khói chạy đen sì, MUỐN ra cắn cổ
    ( Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc – Nguyễn Đình Chiểu)
    thì chữ MUỐN được lặp lại trong hai vế, điều không hề tồn tại trong Câu đối!
    Trong suốt hàng trăm năm ở nước ta, Văn tế đã trở thành một thể loại văn học, để lại những tác phẩm bất hủ như “Văn tế tướng sĩ trận vong” dưới thời Gia Long , “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu, “Văn tế Phan Chu Trinh” của Phan Bội Châu…Văn tế có thế mạnh mà không có thể loại văn chương nào theo kịp, đó là với số câu không nhiều, nhưng có khả năng làm sống lại một giai đoạn lịch sử, một tập thể, một con người với khá đầy đủ sự kiện, chi tiết… và truyền được lòng ngưỡng mộ, thương tiếc đến hậu thế. Văn xuôi có thể mô tả khá chi tiết, nhưng hạn chế việc truyền cảm xúc. Các thể thơ khác có thể truyền cảm xúc nhưng lại bị hạn chế khi chuyển tải sự kiện, chi tiết. Nếu không có bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu, thì thử hỏi mấy người Việt Nam ta biết có sự kiện lịch sử đó?
    Về nội dung, các cụ ngày xưa thường chia bài Văn tế ra bốn phần. Phần một gọi là “Lung khởi”, tức phần mở đầu thường nói đến lý do dẫn đến việc nhớ người quá cố, hoặc là luận về xã hội, thế thái nhân tình..có liên quan đến sự nghiệp người quá cố. Phần hai gọi là “Thích thực”, làm sống đậy thân thế sự nghiệp, tài năng, đức độ của người quá cố. Phần ba gọi là “Ai vãn”, nêu nỗi tiếc thương. Phần bốn là kết. Sự thật, bài Văn tế cũng có thể chỉ chia ra làm ba phần, trong đó, phần hai và ba trên kia có thể hoà vào nhau làm phần nội dung chính. Thể Văn tế còn khác với các bài văn đọc trong các buổi truy điệu là không phải thống kê chi tiết, sự kiện mà nêu được cảm xúc thơ trên những chi tiết, sự kiện, để người nghe không chỉ hiểu mà mến phục, thương cảm người đã mất. Theo tôi, Văn tế là thể loại đứng đầu bảng trong chức năng truyền cảm.
    Rất tiếc là thể loại Văn tế hơn nửa thế kỷ qua vắng bóng trên trên thi đàn, trừ một vài bài trong sách giáo khoa. Không một tờ báo nào in Văn tế, và trong các đám tang, ngày lễ các nhân vật nổi tiếng, dường như không có một bài Văn tế đúng nghĩa được đọc lên. Phần lớn giáo viên dạy văn, hầu hết các nhà thơ, nhà văn Việt Nam chưa từng sáng tác Văn tế. Phải chăng thể Văn tế đang trên đà mai một? Chưa hẳn thế! Trong khi vắng bóng trên văn đàn, trong đời sống tinh thần của xã hội, thể Văn tể hoạt động từ âm thầm đến sôi nổi. Nhiều dòng họ trong nước đã thay các bài cúng tế âm Hán Việt bằng các bài Văn tế thuần Việt để đọc trong các dịp tế lễ, để con cháu hiểu được và biết ơn người đã khai sinh ra dòng họ của mình. Nhiều gia đình đã nhờ người viết Văn tế về thân nhân là liệt sĩ để đọc trong ngaỳ giỗ, mang lại hiệu quả thiết thực. Từ khi mạng xã hội phát triển, Văn tế có đất dụng võ. Từ cảm hứng hào hùng, bi phẫn về sự hy sinh của các chiến sĩ ở Hoàng Sa, Gạc Ma đến sự bi hài về chuyện tách, nhập tỉnh… cũng đi vào Văn tế được đông đảo bạn đọc hưởng ứng.
    Để có tư liệu sáng tác Văn tế trong cuộc thi này, các tác giả không chỉ tìm đọc lại bài của các nhà phê bình phân tích, giới thiệu cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Du, mà trực tiếp nghiền ngẫm các tác phẩm của Đại thi hào. Chỉ Truyện Kiều thôi thì cũng đủ phong phú để nói lên thiên tài thi ca, nhưng muốn cảm nhận được “Con người” của Cụ thì rất cần đến 250 bài thơ chữ Hán. Bài Văn tế hay thường biết lẩy ngôn từ trong Truyện Kiều với ý tứ trích ra từ Thơ chữ Hán Nguyễn Du, làm cho bạn đọc vốn quen thuộc với các tác phẩm của Đại thi hào đồng cảm và hứng khởi lạ thường. Một bài Văn tế có thể chưa nói được nhiều về thân thế sự nghiệp, tình cảm, tính cách của Nguyễn Du, thế nhưng khi đọc xong Tuyển tập này, “Con người” Nguyễn Du đậm nét được xác lập. Đó là người xuất thân từ một dòng họ giàu truyến thống khoa bảng, quan lại và thi ca, lại được pha trộn dòng máu Nghệ Tĩnh, Bắc Ninh nơi có làn điệu dân ca và Quan họ đặc sắc nhất nước được UNESCO vinh danh. Con người đó những năm đầu đời sống trong giàu sang, quyền quí, nhưng hầu hết cuộc đời thiếu thốn, nghèo khổ trong giai đoạn lịch sử có nhiều biến động, kể cả thối nát và suy tàn. Con người đó có thiên tài thi ca bẩm sinh, lại có trái tim nhân ái đau nỗi đau những cuộc đời bất hạnh, nặng tình nặng nghĩa với non nước, quê hương…
    Đa phần bạn đọc không xa lạ với thân thế và sự nghiệp, tài năng và đức độ của Nguyễn Du, khi đọc tập sách này, ký ức về Đại thi hào thức dậy trong niềm cảm phục, luyến thương. Với những độc giả vì lý do nào đó, trước đây chưa có dịp “tiếp cận” Nguyễn Du, thì những bài Văn tế này sẽ theo nhau thấm vào tâm hồn và xác lập con người Đại thi hào từ khi chào đời đến lúc giã từ cõi thế với lòng mến phục, thương cảm của từng tác giả.
    Nói về quê hương thì đây:
    Hồng Lĩnh đỉnh cao vòi vọi, muôn khí thiêng hun đúc bậc anh tài
    Lam Giang bờ rộng thênh thênh, vạn nguồn mạch sản sinh người khoáng dật.
    ( Kha Tiệm Ly)
    Xuất thân gia đình thì:
    Vốn nhà vọng tộc danh gia
    Dòng dõi trâm anh thế phiệt
    Nết người phong nhã hào hoa
    Khí phách hùng tâm tráng kiệt
    (Nguyễn Mình Hoàng)
    Hay cụ thể hơn:
    Dòng dõi trâm anh
    Xuất thân quý tộc
    Bảy đời viễn tổ đỗ đạt, thăng quan
    Thân cận anh em thành danh, tiến tước
    (Xuân Lộc)
    Hoặc là:
    Khoảng trời cha: Hò Ví Giặm Xứ Nghệ, sinh những vần thơ
    Vùng đất mẹ: Hát Quan Họ Bắc Ninh, nối thêm con chữ.
    ( Trần Lâm Bình)
    Cậu ấm con vị Tể tưởng sinh ra trong nhung lụa, nhưng “ngày vui ngắn chẳng tày gang”:
    Mười xuân đời bất hạnh,thân phụ sớm quy tiên
    Mười ba tuổi đau thương, từ mẫu cùng vĩnh biệt
    ( Nguyễn Minh Hoàng).
    Rồi mười năm gió bụi sống nhờ quê vợ, rồi sáu năm dưới chân Hồng Lĩnh quê nhà đói khổ đợi thời cơ. Và con đường công danh:
    Khi Tri huyện Phù Dung, khi Tri phủ Thường Tín, đức nhân từ luôn giúp kẻ cần lao
    Lúc Giám khảo trường thi, lúc Cai bạ Quảng Bình, lòng bác ái vẫn thương người đói khổ
    Này Chánh bộ sứ thần, này Chánh điện học sĩ, canh cánh lòng cẩn trọng để cầu an
    Này tiếp sứ nhà Thanh, này Tham tri bộ Lễ, đinh ninh dạ kiên trì vượt khó…
    ( Văn Đức Hòa)
    Chỉ qua mấy cặp biền ngẫu như thế, bạn đọc đã nắm được “lý lịch trích ngang” của “linh xưa”. Cảm hứng văn chương của các tác giả dành cho việc luận về tài và tâm “ Sao văn chương xé toạc lưng trời/ Lòng nhân ái trải dày mặt đất” của Đại thi hào. Có khi Tài và Tâm quyện vào nhau, hỗ trợ nhau:
    Tay run cất bút – mài tim gan – máu đỏ đầy nghiên
    Thơ vọng thanh âm – vắt trí não – tình sôi cám cảnh
    Tiếng thơ động đất trời thăm thẳm – quỷ khốc thần kinh
    Áng văn tràn thiên hạ mang mang, - giăng mờ sao quạnh.
    ( Nguyễn Hùng Vỹ)
    Lộng lẫy khúc dân ca
    Chứa chan tình Quan họ
    Qua tim người thành chữ chữ gấm thêu
    Thả ngọn bút ngân lời lời châu nhỏ
    Sống mãi cùng dân tộc, trang thơ Kiều cả nước hóa tri âm
    Đến bạn với năm châu, văn hóa Việt, nàng Kiều làm đại sứ
    ( Vương Long)
    “Trái tim lớn đau nỗi đau những cuộc đời bất hạnh” của Nguyễn Du được nhiều tác giả ngợi ca:
    Viết văn tế độ người thảm tử, xót thập loại chúng sinh sống đọa chết đày
    Mượn tân thanh phổ khúc đoạn trường, thương lắm phận hồng nhan hoa trôi bèo dạt
    (Kha Tiệm Ly)
    Thương bao kẻ cảnh đời nheo nhóc, kiếp trầm luân đói rách bần hàn
    Ghét những phường tâm địa nhỏ nhen, lời ác hiểm gian manh tráo trở
    (Văn Đức Hòa)
    Bởi động lòng trắc ẩn, tâm huyết trào dâng
    Vì thương cảm nỗi đau, lệ rơi quạnh quẽ
    ( Nguyễn Viết Ngân )
    Cái tâm của Nguyễn Du còn thể hiện trong tình yêu, nỗi nhớ quê hương:
    Vọng cố hương bao nỗi niềm thương nhớ, nỗi nhớ xóm giềng duyên nợ, nhớ sống Lam trăng tỏ Ví, Đò đưa
    Đoái quê cũ ấm lạnh vui buồn, tình nghĩa cố hương thân thương, nhớ rú Hồng trăng treo hồn trinh nữ
    ( Trần Lâm Bình)
    Qua Long Vĩ bốn phương mây trắng, trông về giọt tủi thầm rơi
    Đầu Hồng Sơn: ấy xóm nhà tôi, nhắc đến trái tim chực vỡ
    ( Vương Long)
    Một chủ đề nữa cũng được nhiều tác giả chạm tới, đó là tinh thần dân tộc của Nguyễn Du.Cụ ngưỡng mộ nhiều danh nhân Trung Hoa, nhưng đồng thời lên án những kẻ đã từng xâm lược nước ta, nên trên đường đi sứ:
    Đất Việt nhớ thương, hướng về cố quốc, hận ngàn năm ghét Mã Viện cột đồng
    Tương Đàm bịn rịn, nhớ tới người xưa, tình một khối bái Khuất Nguyễn đất Sở
    ( Tống Trần Lữ)
    Chỉ đơn cử vậy thôi, còn nhiều, nhiều lắm những liên biền ngẫu ngợi ca tài năng và đức độ cũng như cuộc sống thanh bạch, nghèo khổ của Đại thi hào…
    Thời điểm ra đời của tập sách này đã lưu dấu ấn trong trong nhiều bài văn tế, thường là xuất hiện ở phân Mở đầu hoặc phần kết:
    Hai trăm năm Tiên sinh về cõi thọ, để muôn dân nhớ chốn Trần gian
    Hai thế kỷ đất nước trải trầm luân, nay hậu thế luyến thương người Thiên cổ.
    ( Phùng Hồ)

    Bạn đọc đã có trong tay TUYỂN TẬP VĂN TẾ ĐẠI THI HÀO NGUYỄN DU gồm 28 bài ( nhị thập bát...phẩm!).. Hầu hết các bài trong tập này là kết quả cuộc thi nhân dịp kỷ niệm 200 năm ngày mất của cụ Nguyễn Du, trừ bài của Đào Tử Minh, từng được đọc trong ngày giỗ Cụ năm 1944 và bài của tác giả Hoài Yên, đã đọc trong ngày giỗ năm 2016.
    Phần Phụ lục cuối sách, chúng tôi in lại bài “Tổng vịnh Truyện Kiều” của Chu Mạnh Trinh, vì biết nhiều người từng say mê và đang tìm đọc tác phẩm này.

    Hà Nội, 6 – 2020
    VƯƠNG TRỌNG


    Nhắn tin cho tác giả
    Lê Văn Sơn @ 15:30 22/06/2020
    Số lượt xem: 315
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    Cho và nhận

    Sau khi chết, Giáp và Ất xuống địa ngục. Sau khi tra cuốn sổ ghi công và tội của hai người. Diêm Vương nói: “Khi còn sống, các ngươi chưa từng làm việc ác, cho phép các ngươi được đầu thai làm người. Nhưng bây giờ có hai loại người cho các ngươi lựa chọn: một loại người luôn cho và một loại người luôn nhận, hay nói cách khác, một loại người phải cho đi và bỏ ra, còn loại người kia luôn phải tiếp nhận và thu về” Giáp nghĩ bụng, thu về, nhận vào chẳng phải là ngồi mát ăn bát vàng sao, thật là thoải mái và sung sướng. Vì thế, anh ta tranh nói trước: “Tôi muốn trở thành người chỉ nhận”. Ất thấy thế cũng không còn sự lựa chọn nào khác, nên đành chấp nhận cuộc sống luôn phải bỏ ra và cho đi. Diêm Vương nghe xong liền phán xét tiền đồ của hai người: “Giáp muốn có cuộc sống chỉ nhận vào, nên kiếp sau sẽ làm kẻ ăn xin, suốt ngày nhận sự bố thí của người khác. Ất sẽ trở thành người giàu có, suốt đời bố thí tiền cho người khác”. Ăn xin ở trong khách sạn 5 sao Lời bình: Muốn gặt hái được thành công, thì phải hiểu được triết lý “bỏ ra”. Có bỏ ra thì mới có thu về, có cho thì mới có nhận. Bỏ ra nhiều hay ít sẽ quyết định thành công lớn hay nhỏ.