THỜI GIAN LÀ VÀNG

DỰ BÁO THỜI TIÊT

Hà Nội
Huế
Đà Nẵng
Hội An
Hồ Chí Minh

LIEN KET

HỔ TRỢ TRỰC TUYẾN

Quản trị: LÊ VĂN SƠN
01288556649

Tự điển Oline


Tra theo từ điển:



Tài nguyên dạy học

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Đẹp
    Đơn điệu
    Bình thường
    Ý kiến khác

    Menu chức năng 1

    Menu chức năng 2

    Chào mừng quý vị đến với website DÁNG NHỚ của Lê Văn Sơn.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > ĐẤT NƯỚC > Tự nhiên- du lịch >

    Hà Đông

    MẤT NHƯNG VẪN CÒN
    Hôm 1-8-2008, sau 43 năm (1965-2008) vang bóng, danh xưng Hà Tây bỗng dưng mất hút con mẹ hàng lươn. Từ đó dân Hà Tây trở thành người Hà Nội, nhưng khiêm tốn tự nhận là người Hà Nhì.
    Hà Tây là gì? Là hai tỉnh Hà Đông và Sơn Tây sáp nhập từ ngày 1-7-1965. Hà Đông là gì? Là trong thơ Nguyên Sa:
    Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát
    Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông.
    Vùng đất địa linh nhân kiệt này nằm ở giữa sông Nhuệ và sông Đáy. Sơn Tây có nghĩa là Núi ở phía tây kinh thành Thăng Long, là dãy núi Ba Vì với đỉnh Tản Viên cao cao. Theo Hán tự, đoài là hướng chính tây, nên nơi đây còn có tên là Xứ Đoài. Bởi thế, trong bài thơ Đôi mắt người Sơn Tây, thi sỹ Quang Dũng (quê Đan Phượng) viết:
    Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm
    Em có bao giờ em nhớ thương.
    Năm 1832 vua Minh Mạng chia nước ta thành 30 tỉnh, và danh xưng Hà Nội có từ đó. Tỉnh Hà Nội có làng Cầu Đơ. Tên làng như thế bởi có cây cầu Đơ quét vội trắng toát, mái ngói ngỏ tươi bắc qua dòng sông Nhuệ xanh biếc. Năm 1888 vua Tự Đức buộc phải giao thành Hà Nội (giới hạn bởi 4 cửa Đông- Tây- Nam- Bắc, nay vẫn còn) cho Pháp làm nhượng địa, gom phần đất còn lại lập ra tỉnh Cầu Đơ, tỉnh lỵ đặt ở làng Cầu Đơ.
    Năm 1904 Toàn quyền Đông Dương Pôn Đume (Paul Doumer) chủ trương đổi tên các địa danh nôm na quê kệch ở Bắc Kỳ sao cho mỹ miều văn hoa. Đề xuất của Đốc học Cầu Đơ là Vũ Phạm Hàm (1864-1906) được chấp thuận, thế là tỉnh Cầu Đơ đổi thành tỉnh Hà Đông, tỉnh lỵ Cầu Đơ gọi là thị xã Hà Đông.
    Ở phía tây nam Hà Nội, sao chọn tên Hà Đông? Chả là sách Mạnh Tử có câu: “Hà Nội hung tắc di kỳ dân ư Hà Đông, chuyển kỳ túc ư Hà Nội”, nghĩa là: Hà Nội gặp chuyện bất ổn thì đưa dân về Hà Đông, đưa thóc từ Hà Đông về Hà Nội. Vũ Phạm Hàm muốn nhấn mạnh vai trò quan trọng của vùng đất này đối với thủ phủ của Đông Dương.
    Lưu ý, “Dữ như sư từ Hà Đông” là nói tỉnh Hà Đông ở vùng Hoa Bắc bên xứ Tàu cơ. Các bà các cô chớ có nhận vơ!
    Hà Đông sản sinh lắm nhân tài đáo để. Sơ sơ có Ng.Du (quê Thanh Oai); Ngô Thì Nhậm; các danh sĩ Ng.Trãi, Dương Khuê (1839-1902), Dương Lâm (1851-1920); Ng.An (triều Hồ), tổng công trình sư Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh và nhiều công trình vĩ đại khác bên xứ Tàu; Trần Quý (triều Trần), ông tổ nghề dệt gấm ở nước ta; nhà văn Tô Hoài; nhà tư sản dân tộc Bạch Thái Bưởi; đại tướng Lê Trọng Tấn; nhà bác học Ng.Văn Hiệu (người làng Cầu Đơ); nữ thi sĩ Xuân Quỳnh (người làng La Khê, đồng hương tôi đấy) v.v.
    Năm 1469 vua Lê Thánh Tông lập ra Sơn Tây thừa tuyên, gọi tắt là trấn Sơn Tây. Ban đầu, trấn sở Sơn Tây đóng ở xã La Phẩm, huyện Ba Vì, đến thời Lê Cảnh Hưng dời về xã Đường Lâm. Năm 1832 tỉnh Sơn Tây ra đời, tỉnh lỵ dời đến xã Thuần Nghệ, huyện Tòng Thiện. Năm 1884 Pháp lập tỉnh Sơn Tây mới, được bao bọc bởi sông Đà, sông Hồng và sông Đáy, tỉnh lỵ là thị xã Sơn Tây bên hữu ngạn sông Hồng.
    Sơn Tây là đất của 2 vua: Phùng Hưng- Bố Cái Đại Vương (761-802), Ngô Quyền (898-944) và 2 “nguyên thủ quốc gia”: Ông tổ 4 đời của Tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm (1901-1963) từ Sơn Tây di cư vào Quảng Bình, Phó tổng thống VNCH Ng.Cao Kỳ (1930-2011) sinh ra và lớn lên ở đây.
    Nhân vật lịch sử của Sơn Tây nhiều ra phết: Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan (1528-1613); Giang Văn Minh (1573-1638) là sứ thần Bất nhục quân mệnh (Không để nhục mệnh vua); nhạc sĩ Đức Huy (sinh 1947) khi 70 tuổi vẫn đi hát và lấy vợ, sinh 2 đứa con khỏe mạnh; các thi sĩ Tản Đà, Quang Dũng, v.v.
    Năm 1965 Hà Đông và Sơn Tây sáp nhập thành tỉnh Hà Tây, tỉnh lỵ là thị xã Hà Đông. Năm 1975 Hà Tây sáp nhập với Hòa Bình thành Hà Sơn Bình, tỉnh lỵ vẫn là thị xã Hà Đông. Thế rồi ta và Trung Quốc căng thẳng, do nhu cầu phòng thủ quân sự, cuối năm 1978 thị xã Sơn Tây và các huyện Ba Vì, Phúc Thọ, Thạch Thất, Đan Phượng, Hoài Đức sáp nhập vào Hà Nội. Năm 1991 Hà Sơn Bình lại tách ra như trước 1975, tỉnh lỵ Hà Đông vẫn là thị xã Hà Đông và tỉnh lỵ Sơn Tây lại là thị xã Sơn Tây. Cuối năm 2006 hai thị xã Hà Đông và Sơn Tây được nâng cấp lên thành phố. Đùng một phát, ngày 1-8-2008, toàn bộ tỉnh Hà Tây nhập cái rộp vào thủ đô Hà Nội, thành phố Sơn Tây bị giáng cấp xuống thị xã, thành phố Hà Đông biến thành quận Hà Đông. Thế là hết!
    Tuy nhiên, ca khúc Hà Tây quê lụa của nhạc sỹ Nhật Lai (1931-1987) quê Phú Yên cùng giọng ca Quốc Hương (1915-1984) quê Ninh Bình thì vẫn sống, và sống khoẻ:
    Bóng chiếc thoi đưa ánh mắt long lanh
    Trời đất Hà Tây tay em dệt lụa
    Sữa trắng Ba Vì thóc vàng Khu Cháy
    Hồn thơ Nguyễn Trãi dệt thành vần
    Sông Tích sông Đà giăng lụa mênh mông…
    Nghệ thuật chèo hình thành từ TK10 tại kinh đô Hoa Lư, sau phát tán thành 4 chiếng chèo Đông, Đoài, Nam, Bắc. Chiếng chèo Đoài nổi danh với những tên tuổi lớn của sân khấu chèo, ví như các NSND Tào Mạt, Chu Văn Thức, Diễm Lộc, Khắc Tư, Đoàn Thanh Bình, Văn Chương, Thu Huyền...
    Đặc sản Hà Tây lừng danh thì lủ khủ. Món đút ngay được vào mồm có nem Phùng, giò chả Ước Lễ, bánh cuốn Vân Đình, bánh giò Bích Hòa, bánh tẻ Phúc Lâm, bánh giầy Quán Gánh. Món ngọt có kẹo lạc Đường Lâm, chè lam Thạch Xá, mạch nha Hoài Đức, bánh gai làng Giá. Món phải nấu nướng mới ăn được thì có gạo bồ nâu Thanh Văn, miến Cự Đà, rau sắng Chùa Hương, bánh đa nem Ngự Câu.
    Sữa Ba Vì một thời nổi danh. Ấy là bởi thủ tướng Phạm Văn Đồng sang thăm Ấn Độ, khi về được tặng mấy cặp bò sữa. Ông tặng cho nông trường Ba Vì để nhân giống rồi chuyên sản xuất sữa bò. Đàn bò Ba Vì còn gắn liền với Anh hùng lao động (2 lần) Hồ Giáo, quê Quảng Ngãi.
    Nghe đồn, ngày xưa, sau mỗi lần uýnh nhau với Chiêm Thành, các triều đình nhà ta lại đưa tù binh người Chăm đến khai phá những vùng đất hoang sơ, trong đó có Sơn Tây. Các chàng trai người Chăm lấy vợ Việt, học tiếng Việt nhưng nói bằng giọng Chăm, tạo nên thứ giọng độc đáo không giống ai. Thế là bài hát Tiểu đoàn 307 có câu:
    Ai đã từng đi qua sông Cửu Long Giang
    Cửu Long Giang sóng trào nước xoáy
    Ai đã từng nghe tiếng nông trường
    Tiếng nông trường mang tên… Bà Ví.
    Hê hê hê!
    Ảnh: Đình La Khê, Hà Đông.


    Nhắn tin cho tác giả
    Lê Văn Sơn @ 21:00 01/08/2024
    Số lượt xem: 29
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    Cho và nhận

    Sau khi chết, Giáp và Ất xuống địa ngục. Sau khi tra cuốn sổ ghi công và tội của hai người. Diêm Vương nói: “Khi còn sống, các ngươi chưa từng làm việc ác, cho phép các ngươi được đầu thai làm người. Nhưng bây giờ có hai loại người cho các ngươi lựa chọn: một loại người luôn cho và một loại người luôn nhận, hay nói cách khác, một loại người phải cho đi và bỏ ra, còn loại người kia luôn phải tiếp nhận và thu về” Giáp nghĩ bụng, thu về, nhận vào chẳng phải là ngồi mát ăn bát vàng sao, thật là thoải mái và sung sướng. Vì thế, anh ta tranh nói trước: “Tôi muốn trở thành người chỉ nhận”. Ất thấy thế cũng không còn sự lựa chọn nào khác, nên đành chấp nhận cuộc sống luôn phải bỏ ra và cho đi. Diêm Vương nghe xong liền phán xét tiền đồ của hai người: “Giáp muốn có cuộc sống chỉ nhận vào, nên kiếp sau sẽ làm kẻ ăn xin, suốt ngày nhận sự bố thí của người khác. Ất sẽ trở thành người giàu có, suốt đời bố thí tiền cho người khác”. Ăn xin ở trong khách sạn 5 sao Lời bình: Muốn gặt hái được thành công, thì phải hiểu được triết lý “bỏ ra”. Có bỏ ra thì mới có thu về, có cho thì mới có nhận. Bỏ ra nhiều hay ít sẽ quyết định thành công lớn hay nhỏ.