Chào mừng quý vị đến với website DÁNG NHỚ của Lê Văn Sơn.
Đi tìm tro cốt của Nguyên soái Bành Đức Hoài
|
soái Bành Đức Hoài là nhà lãnh đạo kiệt xuất của Đảng, Nhà nước và Quân đội Trung Quốc. Ông luôn luôn trung thành với sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản, chiến đấu dũng cảm, ngay thẳng, kiên cường, chính trực vô tư.
Năm 1959 và trong Đại cách mạng văn hóa, ông bị quy tội bởi một số sai lầm với Đảng Cộng sản Trung Quốc (?!). Khi ông mất, tro cốt của ông phải mang tên người khác và đặt ở nơi chứa tro cốt người bình thường rồi rơi vào quên lãng. Năm 1978, ông được Đảng Cộng sản Trung Quốc minh oan và công việc tìm tro cốt của ông được khẩn trương tiến hành. Hộp tro cốt bí hiểm 3 giờ 35 phút ngày 29/1/1974, Bành Đức Hoài từ trần tại Bệnh viện chính của Giải phóng quân. Bành Đức Hoài một đời chinh chiến, trải qua trăm trận, chiến công lẫy lừng. Trong cuộc trường chinh, sau khi Hồng quân phá tan vòng vây chặn đường của kẻ địch, kết thúc thắng lợi trận chiến cuối cùng, Mao Trạch Đông đã từng làm một bài thơ hết lời ca ngợi Bành Đức Hoài. Song, tại Hội nghị Lư Sơn năm 1959, Bành Đức Hoài bị phê phán là phạm sai lầm, bị quy kết là “phần tử hữu khuynh cơ hội chủ nghĩa”, thậm chí vô cớ bị chụp tội danh là “thông đồng với nước ngoài”, “tổ chức câu lạc bộ quân sự” và một số tội danh khác. Trong Đại cách mạng văn hóa, Bành Đức Hoài lại bị bức hại. Năm 1973, ông bị ung thư trực tràng phải vào Bệnh viện chính của Giải phóng quân. Bành Đức Hoài biết mình mắc bệnh hiểm nghèo, trong lòng đầy oan khuất nên ông muốn nói ra với Trung ương, với Mao Chủ tịch. Trước khi phẫu thuật, ông nhắc đi nhắc lại: “Tôi có lời muốn nói với Mao Chủ tịch, không nói ra thì tôi không phẫu thuật”. “Ngày mai phẫu thuật, hôm nay tôi đi gặp Mao Chủ tịch, nói rõ quan điểm của tôi về một số vấn đề, cũng coi là một phần trách nhiệm cuối cùng của tôi”. Sau phẫu thuật, có một thời gian sức khỏe của Bành Đức Hoài khôi phục tương đối tốt, ông lại vui mừng nói: “Xem ra hiệu quả phẫu thuật không tồi, cửa ải đó coi như đã vượt qua. Cũng tốt, làm rõ vấn đề của tôi rồi đi gặp Mao, đỡ được ở đó lại phải báo cáo”. Về sau, bệnh tình của Bành Đức Hoài chuyển biến xấu, ông cứ lẩm bẩm một mình: “Bây giờ nếu tôi được gặp Mao Chủ tịch thì tốt biết bao”. Tháng 9/1974, Bành Đức Hoài bệnh nặng. Phó chủ tịch Diệp Kiếm Anh, khi đó là Thường trực Quân ủy Trung ương, cử người đến bệnh viện thăm. Bành Đức Hoài nói với người đến thăm: “Tôi phạm rất nhiều sai lầm, nhưng tôi không có âm mưu gì cả. Về điểm đó tôi là rõ ràng”. “Đã thẩm tra tôi 8 năm rồi, đến nay vẫn chưa có kết luận”. Về việc Ban “thẩm tra chuyên án” gán cho ông 2 tội danh “thông đồng với nước ngoài” và “cầm đầu tập đoàn phản Đảng”, ông khiếu nại lần cuối cùng lên Trung ương Đảng. Trong thời khắc bệnh tình nguy kịch, lời nói cuối cùng của Bành Đức Hoài là: “Tôi không chống đối Mao Chủ tịch, tôi không thông đồng với nước ngoài”. Bành Đức Hoài không kịp thổ lộ hết nỗi oan khuất vô hạn mà phải ra đi, từ biệt thế giới này. Sau khi Bành Đức Hoài qua đời, trong báo cáo của Tổ chuyên án về cái chết và việc xử lý tro cốt của Bành Đức Hoài, viết: “Bành Đức Hoài, người bị thẩm tra, do mắc bệnh ung thư trực tràng, qua chữa trị không có kết quả, bị bệnh chết ngày 29/11/1974”. “Bành Đức Hoài thông đồng với nước ngoài, phần tử phản Đảng âm mưu tước đoạt quyền. Ý kiến của chúng tôi là đề nghị đổi tên ông ta thành Vương Xuyên. Sau khi hỏa táng thi thể, tro cốt đặt ở nghĩa trang công cộng Thành Đô”. Về việc trả lời đề nghị bản báo cáo đó, một bản ghi chép khác của Văn phòng chuyên án viết: “Văn phòng Ban bí thư điện thoại báo cho biết: Phó chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc Vương Hồng Văn chỉ thị: “Làm theo báo cáo đề xuất”. Ngày 17/12/1974, ngày thứ 18 sau khi Bành Đức Hoài từ trần, di thể của ông được Bệnh viện chính của Giải phóng quân mang đến Bát Bảo Sơn để hỏa táng. Đơn xin hỏa táng viết: Người xin: Vương Khuê Vài ngày sau đó, hai quân nhân cầm giấy giới thiệu của Tổ chuyên án Trung ương Đảng đến Thành Đô. Khi đó, Lưu Hưng Nguyên, Bí thư thứ nhất Tỉnh ủy Tứ Xuyên, Chủ nhiệm Ủy ban cách mạng tỉnh, Chính ủy Quân khu Thành Đô; Lý Đại Chương, Bí thư Tỉnh ủy, Phó chủ nhiệm Ủy ban cách mạng và Đoạn Quân Nghị, Bí thư Tỉnh ủy, tiếp họ. Hai quân nhân trình bày với họ về chỉ thị của Trung ương: “Chúng tôi mang đến một hộp tro cốt của Bành Đức Hoài, theo tổ chức quyết định đổi tên đổi họ và để ở Thành Đô. Hộp tro cốt này để ở nơi chứa tro cốt của mọi người bình thường là được. Sau khi chứa xong, không cho phép bất cứ ai di chuyển. Muốn di chuyển phải được Quân ủy trung ương phê chuẩn. Chuyện này, ba đồng chí là người lãnh đạo biết là được, không cho phép bất cứ ai tiết lộ, phải tuyệt đối bảo mật”. Ba người lãnh đạo cao nhất của tỉnh Tứ Xuyên cúi đầu nặng nề. Họ nhớ rất rõ, 8 năm trước, Bành Đức Hoài bị một nhóm người phái tạo phản bắt đi, nhét vào trong toa xe chật ních người chở đến Bắc Kinh, từ đó bặt vô âm tín. Không ngờ khi ông quay trở lại Thành Đô, chỉ còn là một nhúm tro cốt đựng trong hộp. Nhưng với tình thế lúc bấy giờ, ba vị lãnh đạo này chỉ có thể bày tỏ: “Tỉnh ủy nhất định làm theo chỉ thị của Trung ương, cất giữ cẩn thận hộp tro cốt của Bành Đức Hoài, tuyệt đối bảo mật”. Lưu Hưng Nguyên, Lý Đại Chương, Đoạn Quân Nghị bàn bạc quyết định để Đoạn Quân Nghị sắp xếp, nhanh chóng đưa hộp tro cốt của Bành Đức Hoài đặt ở nhà hỏa táng phía đông của thành phố. Đoạn Quân Nghị giao nhiệm vụ này cho Đỗ Tâm Nguyên là Chánh văn phòng Tỉnh ủy và Ủy ban cách mạng tỉnh. Đỗ Tâm Nguyên lại giao cho Trương Chấn Á là Phó ban Bảo vệ; Trương Chấn Á lại cử Đỗ Tín là Phó phòng hành chính thực hiện những nhiệm vụ cụ thể có liên quan. Đỗ Tín đến nhà khách Cẩm Giang, Thành Đô, nhận hộp tro cốt từ tay hai quân nhân kia. Đây không phải là hộp tro cốt bằng đá đàng hoàng đẹp đẽ, cũng chẳng phải là một hộp tro bằng gỗ nam mộc sơn mài mạ vàng. Đây chỉ là một hộp gỗ đóng bằng ván thô ráp, trên mặt dán một băng giấy, viết ngoáy 3 chữ “Vương Xuyên, nam”. Đỗ Tín trong lòng biết rõ, đây là một hộp tro cốt khác thường, nhưng "Vương Xuyên" là ai? Nhiều năm làm việc ở ngành cơ yếu đã luyện cho Đỗ Tín một thói quen không hỏi nhiều, để nỗi nghi vấn này chôn chặt trong lòng nhiều năm. |
Đỗ Tín sau khi liên hệ với Cục Dân chính Thành Đô và Sở Quản lý quàn cữu và mai táng, đánh xe đến Nhà hỏa táng Đông Giao cách thành phố 7 dặm (1 dặm Trung Quốc bằng 0,5km - ND), tìm được bác thợ cả Tân Tự Quyền là người phụ trách ở đây. Đỗ Tín dặn dò Tân Tự Quyền: “Thứ nhất, phải bảo quản tốt, không được để mất; thứ hai, để hộp tro cốt này trên giá đặt tro cốt của người bình thường, không nên làm cho người ta chú ý, không có tôi hoặc không có giấy giới thiệu của Tổ công tác của Ủy ban cách mạng tỉnh thì người khác không được mang đi. Thứ ba, có gì biến động các ông phải thông báo cho tôi ngay, tôi đưa ông số điện thoại của tôi”. Tiếp đó, Đỗ Tín làm thủ tục ký gửi 3 năm.
Khi điền vào tờ ký gửi, Đỗ Tín không rõ lai lịch hộp tro cốt, trừ tên họ và giới tính ra nên dòng “quê quán” chỉ còn cách điền vào hai chữ “Thành Đô”. Dòng “tuổi”, vì không muốn cho người ta nghĩ đến là cán bộ lão thành, tránh gây phiền phức nên điền vào “32 tuổi”. Dòng “Người ủy thác”, Đỗ Tín điền vào tên mình. Dòng “Quan hệ với người chết”, Đỗ Tín suy nghĩ một chút rồi điền vào “Đồng sự”. Lúc đó Đỗ Tín nghĩ không ra, vị “đồng sự” này chính là Nguyên soái Bành Đức Hoài tên tuổi lừng lẫy.
Bác thợ cả Tân Tự Quyền để hộp tro cốt trên giá tro cốt, số hiệu trên giá tro cốt là “237”. Tân Tự Quyền là người lương thiện, lấy một miếng lụa đen phủ lên hộp tro cốt có phần thô sơ nhưng bí hiểm này. Bành Đức Hoài chỉ được cúng tế như vậy sau khi từ giã thế giới này.
Hôm ấy là ngày 23/12/1974, một ngày đông lạnh lẽo âm u.
Thoáng chốc, 3 năm đã trôi qua. Bác thợ cả Tân Tự Quyền nghỉ hưu. Khi ông rời khỏi Nhà hỏa táng Đông Giao, lại dặn dò kỹ Can Chí Quần là người thay ông, phải hết sức cẩn thận chú ý đến toàn bộ tro cốt ký gửi không nên xử lý tùy tiện. Đặc biệt, loại hộp tro cốt không biết rõ ràng lai lịch như “Vương Xuyên” thì càng phải đặc biệt chú ý, tuyệt đối không được động đến. Sau khi về hưu, mỗi tuần Tân Tự Quyền đều đạp xe đến Đông Giao, thăm hộp tro cốt “Vương Xuyên”. Trương Chấn Á và Đỗ Tín thì luôn nhớ đến hộp tro cốt đó, đã mấy lần lặng lẽ đến Nhà hỏa táng viếng thăm.
Sự thật lên tiếng
Năm 1978, lịch sử Trung Quốc chuyển sang một trang mới. Tháng 12/1978, Đảng Cộng sản Trung Quốc họp Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 3 khóa 11, một hội nghị mang ý nghĩa lịch sử sâu xa. Trước khi Hội nghị lần thứ 3, từ ngày 10/11 đến 15/12, tiến hành Hội nghị công tác trung ương kéo dài đến 36 ngày đề ra nghị quyết lãnh đạo về một số công việc quan trọng.
Tại hội nghị, Trần Vân đã phát biểu về Nguyên soái Bành Đức Hoài: "Đồng chí Bành Đức Hoài là đảng viên Cộng sản đã gánh vác công tác quan trọng trong Đảng và trong quân đội, có nhiều cống hiến lớn cho Đảng, nay đã chết. Trước đây nói Bành Đức Hoài đã phạm sai lầm, nhưng tôi chưa bao giờ nghe nói khai trừ Bành Đức Hoài ra khỏi Đảng, tro cốt của Bành Đức Hoài phải được đưa vào nghĩa trang cách mạng Bát Bảo Sơn".
Phát biểu của Trần Vân được nhiều đồng chí nhiệt liệt ủng hộ. Theo yêu cầu bức xúc của các đồng chí có mặt tại Hội nghị, Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tiến hành thảo luận và nghiên cứu nghiêm túc. Ngày 25/11, Hoa Quốc Phong, thay mặt Bộ Chính trị, tại Hội nghị công tác, tuyên bố quyết định giải quyết 10 mục mà “Văn cách” (Đại cách mạng văn hóa) để lại một số vấn đề tương đối quan trọng ở trung ương và ở địa phương, trong đó, mục thứ năm là: về vấn đề đồng chí Bành Đức Hoài. Đồng chí Bành Đức Hoài là đảng viên lão thành, đã từng giữ nhiều chức vụ quan trọng trong Đảng, Chính phủ, Quân đội, có nhiều cống hiến to lớn. Trong lịch sử đã có sai lầm, nhưng việc nghi ngờ đồng chí thông đồng với nước ngoài trước đây là không có căn cứ. Tro cốt của đồng chí Bành Đức Hoài phải được đưa vào nghĩa trang cách mạng Bát Bảo Sơn.
Hội nghị Công tác Trung ương vẫn chưa kết thúc, Văn phòng Tổ thẩm tra chuyên án trung ương cử hai quân nhân đi máy bay hỏa tốc đến Thành Đô, điều tra tình hình bảo quản tro cốt Bành Đức Hoài. Trương Chấn Á, người từng giữ chức Phó bí thư Thành ủy, tiếp hai quân nhân này, nhưng ông lại chưa bao giờ nghe nói tro cốt của Bành Đức Hoài để ở Thành Đô. Qua năm lần bảy lượt, hai vị khách đến từ Bắc Kinh gợi chuyện, Trương Chấn Á cuối cùng cũng nhớ ra chuyện hộp tro cốt “Vương Xuyên” từ Bắc Kinh đưa đến 4 năm trước. Khi ông được biết tro cốt “Vương Xuyên” chính là tro cốt Bành Đức Hoài, thì ông thật không dám tin vào tai mình.
Trương Chấn Á đưa hai vị khách Bắc Kinh đến nhà khách Cẩm Giang, rồi vội đánh xe đến nhà hỏa táng ở ngoại ô phía đông thành phố. Tro cốt Bành Đức Hoài để ở đây đã 4 năm rồi, trong thời gian đó tuy ông đã đến xem mấy lần, nhưng thời hạn ký gửi đã qua, hiện tại tro cốt Bành Đức Hoài rốt cuộc như thế nào?
Xe chưa kịp dừng trước cửa nhà hỏa táng, Trương Chấn Á liền nhảy xuống xe, đi thẳng đến phòng bảo quản tro cốt. Ông vừa liếc nhìn đã thấy ngay hộp tro cốt mang số “273” vẫn nguyên vẹn đặt ở chỗ cũ, tim ông giật thót, ông lấy hộp tro cốt xuống.
Sau khi hai quân nhân đến từ Bắc Kinh được biết tro cốt Bành Đức Hoài hoàn toàn không bị hư hại, họ mới an tâm trở về Bắc Kinh. Trương Chấn Á cảm thấy sự việc trọng đại, liền báo cáo Đỗ Tâm Nguyên là Bí thư Tỉnh ủy thường trực cơ quan Tỉnh ủy giải quyết công việc hàng ngày. Đỗ Tâm Nguyên chỉ thị, nhất định phải bảo vệ chu đáo tro cốt Bành Đức Hoài và tiếp tục giữ bí mật, chờ sự sắp xếp của Trung ương.
Ngày 23/12/1978 là ngày kết thúc Hội nghị toàn thể Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản lần thứ 3 khóa 11, tin minh oan cho Bành Đức Hoài sẽ được công bố. Chính ngày hôm đó, Văn phòng Trung ương Đảng, Văn phòng Quân ủy trung ương điện thoại thông báo cho Văn phòng Tỉnh ủy Tứ Xuyên: “Đã cho máy bay của Hãng hàng không dân dụng Trung Quốc đến nhận tro cốt đồng chí Bành Đức Hoài, máy bay hạ cánh ở sân bay Song Lưu, Thành Đô, tro cốt Tổng Tư lệnh Bành Đức Hoài phải đến Bắc Kinh an toàn. Ngày 24, Ban chấp hành Trung ương sẽ tổ chức đại hội minh oan và tổ chức lễ truy điệu cho đồng chí Bành Đức Hoài...”. Bí thư Tỉnh ủy Đỗ Tâm Nguyên chỉ thị Trương Chấn Á đến nhà hỏa táng Đông Giao lấy tro cốt Bành Đức Hoài, đồng thời tiếp tục liên hệ với Văn phòng Trung ương, hỏi cho rõ có phải tổ chức nghi thức đưa tiễn hay không, có cần người hộ tống hay không.
Trương Chấn Á nhớ rất rõ, năm đó là Đỗ Tín đem tro cốt Bành Đức Hoài ký gửi tại nhà hỏa táng Đông Giao của thành phố, do đó, ông ta điện thoại gọi Đỗ Tín đến. Khi Đỗ Tín biết được năm đó mình ký gửi tro cốt “Vương Xuyên” chính là tro cốt Bành Đức Hoài thì như chợt tỉnh mộng, đau khổ khóc to. Dù thế nào đi chăng nữa thì ông ta cũng không thể nào tự nhận là “đồng sự”, cũng không thể nào gắn mình với tên tuổi anh hùng của Nguyên soái Bành Đức Hoài.
Trương Chấn Á, Đỗ Tín, dẫn theo hai cán bộ bảo vệ, mang phiếu ký gửi tro cốt năm đó, liền đến nhà hỏa táng Đông Giao, lấy hộp tro cốt số “273” ở trên giá tro cốt tối tăm. Ngày hôm đó cũng đúng ngày 23/12. Chính là ngày 23/12 của 4 năm trước, Đỗ Tín đem hộp tro cốt đến đây. Trên đường trở về Tỉnh ủy, Đỗ Tín cho xe dừng trước một cửa hàng, tự mình xuống xe mua 6 thước lụa đỏ, trịnh trọng bọc lấy hộp tro cốt.
Sau khi hộp tro cốt Bành Đức Hoài được chở về Tỉnh ủy, các đồng chí lãnh đạo Tỉnh ủy, Quân khu Thành đô, Tỉnh đội nhận được thông báo, đều đến vĩnh biệt anh linh Bành Đức Hoài. Mọi người im lặng đứng mặc niệm trước hộp tro cốt Bành Đức Hoài, sau đó nghiêng mình chào 3 lần và đi một vòng quanh hộp tro cốt, nhiều người ứa nước mắt đau buồn, chua xót.
Lúc đó, Trương Chấn Á lại liên lạc với Văn phòng Trung ương và Văn phòng Quân ủy Trung ương, thỉnh thị việc hộ tống tro cốt Bành Đức Hoài như thế nào. Văn phòng Quân ủy Trung ương thông báo: Hãy cử hai người là nguyên thư ký của Tổng Tư lệnh Bành Đức Hoài là Kỳ Khôi Anh và tham mưu cảnh vệ là Cảnh Hi Trân ở Thành Đô, hộ tống đến Bắc Kinh.
Khi đó, Kỳ Khôi Anh, Cảnh Hi Trân đang chuẩn bị bay chuyến bay lúc 12 giờ trưa đi Bắc Kinh tham dự lễ truy điệu Bành Đức Hoài thì đột nhiên cán bộ của Tỉnh đội và Quân khu Thành Đô đến tìm, thông báo cho họ biết quyết định của Văn phòng Quân ủy trung ương và nhanh chóng dẫn họ đến Tỉnh ủy. Kỳ Khôi Anh, Cảnh Hi Trân, nằm mơ cũng không thể nghĩ rằng, hộp tro cốt Tổng Tư lệnh Bành Đức Hoài bao nhiêu năm nằm ở Thành Đô, nay họ được vinh dự mang đến Bắc Kinh.
Khi họ đến sân Văn phòng Tỉnh ủy, nhìn thấy hộp tro cốt Bành Đức Hoài, thật không dám tin trong cái hộp gỗ thô sơ đó lại chứa tro cốt vị thủ trưởng cũ của mình. Từ cuối tháng 12/1966, họ hộ tống Bành Đức Hoài đến Bắc Kinh, sau khi bị buộc phải chia tay với Tổng Tư lệnh Bành Đức Hoài ở Học viện Địa chất Bắc Kinh, họ lần lượt bị điều đến Ban Vũ trang nhân dân, huyện Tư Dương, Trung Giang, Tứ Xuyên, từ đó cũng không tin tức gì về Bành Đức Hoài nữa. Hai người đàn ông cường tráng không nén nổi đau buồn, bước đến bên hộp tro cốt mà khóc không thành tiếng.
Tiếng còi ôtô bên ngoài tòa nhà giục họ mau mau xuất phát. Để đảm bảo an toàn tuyệt đối trên đường đi, Kỳ Khôi Anh vừa khóc vừa đặt hộp tro cốt Bành Đức Hoài vào trong túi xách của mình rồi ra xe.
Chiếc máy bay của Hàng không dân dụng Trung Quốc đỗ ở sân bay Song Lưu đã quá giờ cất cánh, hành khách nhao nhao chất vấn tiếp viên. Tiếp viên và phi công biết rằng họ đang thi hành một nhiệm vụ quan trọng, nhưng lại không biết nhiệm vụ quan trọng đó là gì.
Kỳ Khôi Anh, Cảnh Hi Trân mang chiếc túi xách tay đó, dưới sự chỉ dẫn của Trương Chấn Á và một số người khác vội vàng đến sân bay, sau khi từ biệt, liền bước lên máy bay. Sau hơn một giờ bay, đồng chí phụ trách tổ bay tay cầm điện báo hỏi mười mấy vị quân nhân mặc áo bông xem họ mang theo hành lý gì. Khi đồng chí này đến bên cạnh Kỳ Khôi Anh, Cảnh Hi Trân, thẩm tra biết rõ là họ mang tro cốt Bành Đức Hoài, liền xóa tan mối hoài nghi lo lắng của họ và thông báo cho họ biết: “Văn phòng Quân ủy Trung ương thông báo cho các đồng chí, do không kịp cử chuyên cơ, các đồng chí bay bằng máy bay của Hàng không dân dụng. Khi đến sân bay Thủ đô, các đồng chí không xuống trước. Đợi cho hành khách xuống hết, máy bay sẽ lại bay tiếp và được coi là chuyên cơ sẽ hạ cánh xuống sân bay Tây Uyển, Thủ trưởng Quân ủy đợi ở đó để nghênh tiếp tro cốt Tổng Tư lệnh Bành Đức Hoài”.
Hơn 6 giờ chiều, máy bay tới sân bay Thủ đô, sau khi hành khách xuống hết, Phó chủ nhiệm Văn phòng Quân ủy trung ương Vương Thừa Quang cũng là thư ký cũ của Bành Đức Hoài, 3 người gặp mặt, nhớ lại những năm tháng trước đây, vô cùng cảm khái.
Máy bay lại cất cánh từ sân bay Thủ đô, bay qua Thủ đô ánh đèn rực rỡ và hạ cánh xuống sân bay Tây Uyển, máy bay chạy đến sân đỗ, cửa máy bay mở ra, Kỳ Khôi Anh nén nỗi đau buồn của mình, hai tay bưng hộp tro cốt phủ lụa đỏ, đứng trước cửa khoang máy bay. Khi đó, cả đội nghênh tiếp vang lên tiếng khóc.
Phu nhân Bành Đức Hoài là Phố An Tư cùng thân quyến là Bành Cương, Bành Mai Khôi và thư ký cũ của Bành Đức Hoài là Mãnh Vân Tăng bước lên máy bay. Bành Cương nhận hộp tro cốt người bác thân yêu từ tay Kỳ Khôi Anh và từ từ bước xuống cầu thang máy bay. Khi họ đi qua hai hàng đại biểu Đảng, Chính phủ, Quân đội, mọi người không cầm được nước mắt, các quân nhân đứng chào vị nguyên soái của mình theo quân lễ.
15 giờ ngày 24/12/1978, lễ truy điệu Bành Đức Hoài được tổ chức tại Đại lễ đường nhân dân. Trong hội trường không có di thể, chỉ có hai bức ảnh choàng dải lụa đen, hai hộp tro cốt phủ cờ Đảng và Nhà nước, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Quốc vụ viện, UBTVĐH Ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân Trung Quốc, Quân ủy Trung ương đặt ở hai bên.
Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc Hoa Quốc Phong, Phó Chủ tịch Đảng Diệp Kiếm Anh chủ trì lễ truy điệu, Đặng Tiểu Bình thay mặt Ban Chấp hành Trung ương đọc điếu văn.
Sau lễ truy điệu, theo quyết định của Trung ương, tro cốt Bành Đức Hoài được đặt tại nghĩa trang cách mạng Bát Bảo Sơn để cho mọi người đến thăm viếng.
Cuối cùng Nguyên soái Bành Đức Hoài đã được lịch sử Trung Quốc đánh giá một cách công bằng
Lê Văn Sơn @ 13:27 10/05/2013
Số lượt xem: 1858
- Những câu văn khiến người lớn giật mình (09/05/13)
- Mời độc giả cùng thưởng thức bài thơ mới nhất của "thi sĩ" Phạm Quốc Đat: (03/05/13)
- Văn hóa ứng xử: Dân miền Nam "ăn đứt" người miền Bắc (17/04/13)
- Quyền lực đang bị thương mại hóa (11/04/13)
- Giáo sư "tứ trụ" của nền Sử học: "Nếu là học sinh, tôi cũng chán" (10/04/13)

Rất cảm động về con người tai năng và thân phận